#23 - Đại học khởi nghiệp: Mặt trận mới trong cuộc cạnh tranh quyền lực giữa các quốc gia
Ngô Hoàng
Trong cuộc cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, chúng ta thường tập trung vào những yếu tố "cứng" như sức mạnh quân sự, GDP, hay dân số. Nhưng có một mặt trận ít được chú ý hơn đang định hình cán cân quyền lực thế kỷ 21: đại học khởi nghiệp (entrepreneurial university).
Celonis – startup từ Đại học Kỹ thuật Munich được định giá 13 tỷ đô la. Google, Hewlett-Packard – khởi nguồn từ Stanford. Đây không phải những câu chuyện ngẫu nhiên, mà là sản phẩm của một chiến lược quốc gia có tính toán, nơi các trường đại học trở thành công cụ để chuyển hóa tri thức thành sức mạnh kinh tế và công nghệ. Nếu thế kỷ 20 chứng kiến các quốc gia cạnh tranh qua công nghiệp nặng và vũ khí hạt nhân, thì thế kỷ 21 là cuộc đua về đổi mới sáng tạo và công nghệ lõi. Và trong cuộc đua này, đại học khởi nghiệp chính là "nhà máy sản xuất" năng lực cạnh tranh quốc gia. Đối với Việt Nam – một quốc gia tầm trung đang tìm cách thoát bẫy thu nhập trung bình và nâng cao vị thế trong trật tự khu vực – việc phát triển các trường đại học khởi nghiệp không chỉ là chính sách giáo dục, mà là chiến lược sinh tồn trong nền kinh tế tri thức toàn cầu.
Bài học từ các mô hình hàng đầu thế giới
Đại học Kỹ thuật Munich (TUM) đại diện cho mô hình châu Âu với cách tiếp cận hệ thống được xây dựng có chiến lược kể từ đầu thế kỷ 21. TUM không chỉ tạo ra hơn 800 công ty khởi nghiệp và 22.000 việc làm mà còn sản sinh nhiều doanh nghiệp kỳ lân (unicorn) như Celonis định giá 13 tỷ đô la. Trụ cột của mô hình TUM là UnternehmerTUM, tổ chức tích hợp cung cấp toàn bộ chuỗi giá trị hỗ trợ từ giai đoạn ý tưởng đến mở rộng quy mô, kèm theo quỹ đầu tư mạo hiểm riêng với vốn hàng trăm triệu euro. Điểm đột phá ở TUM là mười phòng thí nghiệm khởi nghiệp (TUM Venture Labs) chuyên biệt cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược từ trí tuệ nhân tạo, robotics đến công nghệ sinh học; mỗi phòng thí nghiệm là một hệ sinh thái nhỏ với chuyên môn sâu và mạng lưới đối tác riêng.
Đại học Stanford và MIT thể hiện sức mạnh của mô hình Mỹ với mối quan hệ cộng sinh giữa các trường đại học và ngành công nghiệp công nghệ cao. Stanford với hơn bảy thập kỷ nuôi dưỡng tinh thần khởi nghiệp đã sản sinh những công ty định hình ngành công nghệ toàn cầu từ Hewlett-Packard đến Google. Chương trình StartX của Stanford đã hỗ trợ hơn 2.000 công ty với tổng định giá vượt 110 tỷ đô la. MIT thông qua Trung tâm Martin Trust và Chương trình tăng tốc Delta chuyên hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ sâu (deep tech), những công nghệ cần thời gian dài phát triển nhưng có tiềm năng tác động lớn.
Ở châu Á, Đại học Quốc gia Singapore (NUS) và Đại học Thanh Hoa của Trung Quốc cho thấy cách các quốc gia đang trỗi dậy sử dụng đại học như công cụ chiến lược. NUS Enterprise với hơn 40 chương trình hỗ trợ và mô hình Block71 đã tạo ra hệ sinh thái được nhân rộng tại nhiều quốc gia – một hình thức "xuất khẩu" soft power đáng chú ý. Đại học Thanh Hoa với X-Lab đã hỗ trợ hơn 3.000 dự án, thể hiện cách Bắc Kinh biến đại học thành động lực chính cho tham vọng tự chủ công nghệ và "Made in China 2025". Điểm chung của các mô hình châu Á là sự kết hợp học hỏi từ phương Tây và thích ứng bối cảnh địa phương, với sự phối hợp chặt chẽ giữa đại học, chính phủ và khu vực tư nhân.
Những khoảng trống cần khỏa lấp
Khoảng cách lớn nhất giữa các trường đại học ở Việt Nam và đại học hàng đầu thế giới nằm ở năng lực chuyển giao công nghệ. Tại TUM, MIT hay Stanford, văn phòng chuyển giao công nghệ là tổ chức chuyên nghiệp với đội ngũ có chuyên môn sâu về cả công nghệ lẫn kinh doanh. Họ không chỉ quản lý sở hữu trí tuệ mà chủ động quét các nghiên cứu để xác định tiềm năng thương mại hóa, tư vấn chiến lược bảo hộ và kết nối đối tác công nghiệp. Tại Việt Nam, mặc dù hầu hết các trường đại học lớn đều có văn phòng chuyển giao công nghệ, nhưng phần lớn hoạt động còn ở mức độ hành chính, thiếu chuyên gia có kiến thức sâu về định giá công nghệ và hiểu biết thị trường. Đặc biệt, nhiều công nghệ tiềm năng đã nằm im trong phòng thí nghiệm vì không có ai biết cách đưa chúng ra thị trường.
Chính sách về sở hữu trí tuệ và khuyến khích giảng viên là lĩnh vực thứ hai cần cải cách toàn diện. Tại các trường đại học hàng đầu thế giới, doanh thu từ chuyển giao công nghệ được chia sẻ công bằng giữa nhà phát minh, khoa và đại học với tỷ lệ khoảng 33% mỗi bên, tạo động lực cho tất cả. MIT có quy định cho phép giảng viên dành một ngày mỗi tuần làm việc với công ty khởi nghiệp của mình, Stanford cho phép nghỉ phép không lương để tham gia công ty tách ra từ đại học. Ở Việt Nam, chính sách về sở hữu trí tuệ vẫn mơ hồ, quy trình bảo hộ phức tạp, và giảng viên tham gia hoạt động thương mại hóa thường bị xem là không tập trung vào nhiệm vụ chính vì tiêu chí đánh giá chủ yếu dựa trên công bố khoa học.
Hệ sinh thái tài chính cho khởi nghiệp đại học là khoảng trống tiếp theo. UnternehmerTUM có quỹ đầu tư riêng cho phép đầu tư từ vòng hạt giống (seed) đến vòng B, Stanford và MIT được bao quanh bởi các quỹ đầu tư mạo hiểm chuyên về công nghệ sâu. Ở Việt Nam, nguồn vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp giai đoạn sớm đã tăng nhưng thiếu các quỹ chuyên biệt cho khởi nghiệp đại học, đặc biệt là các công nghệ sâu. Các quỹ hiện tại thường tìm kiếm doanh nghiệp đã có sản phẩm và doanh thu, trong khi khởi nghiệp đại học thường ở giai đoạn công nghệ chưa hoàn thiện và cần thời gian dài phát triển.
Quan hệ trường đại học-doanh nghiệp cần được thể chế hóa mạnh mẽ hơn. TUM có hơn 300 đối tác doanh nghiệp tham gia từ tài trợ nghiên cứu, cung cấp bài toán thực tế cho sinh viên, đến tham gia ban cố vấn định hướng chiến lược. Ở Việt Nam, mối quan hệ này chủ yếu qua các hợp đồng nghiên cứu đơn lẻ hoặc chương trình thực tập thiếu chiều sâu. Doanh nghiệp chưa coi các trường đại học là một nguồn đổi mới quan trọng, trong khi các trường đại học còn thiếu chủ động tiếp cận và phục vụ nhu cầu doanh nghiệp.
Giáo dục khởi nghiệp tích hợp vẫn hạn chế. Stanford có gần 50 khóa học về khởi nghiệp từ cơ bản đến nâng cao cho tất cả ngành, MIT yêu cầu sinh viên thực hiện ít nhất một dự án thực hành. Trong khi đó, Việt Nam mới bắt đầu đưa giáo dục khởi nghiệp vào chương trình nhưng chủ yếu là môn tùy chọn với nội dung còn lý thuyết, thiếu phương pháp như Khởi nghiệp tinh gọn (Lean Startup), Tư duy thiết kế (Design Thinking) hay Phát triển khách hàng (Customer Development). Giảng viên thường thiếu kinh nghiệm thực tế, phương pháp chủ yếu là thuyết trình thay vì học qua làm.
Mạng lưới các cựu sinh viên là một nguồn tài sản chưa được khai thác. Stanford với hơn 250.000 cựu sinh viên toàn cầu có nhiều người trở thành nhà đầu tư thiên thần hoặc cố vấn cho thế hệ sau, MIT có Dịch vụ hướng dẫn liên doanh với hàng trăm tình nguyện viên. Ở Việt Nam, mạng lưới các cựu sinh viên tồn tại chủ yếu cho mục đích gặp gỡ giao lưu, chưa có tổ chức bài bản để hỗ trợ khởi nghiệp dù nhiều người thành công sẵn sàng đóng góp.
Văn hóa chấp nhận thử nghiệm và thất bại cần được chủ động nuôi dưỡng. Stanford tổ chức sự kiện chia sẻ về thất bại, MIT có "Đêm thảm họa" để sinh viên học hỏi từ dự án không thành công. Trong văn hóa Việt Nam vốn nặng về ổn định và tránh rủi ro, việc xây dựng văn hóa coi thất bại là bài học quý giá là thách thức lớn nhưng thiết yếu.
Làm thế nào để hoàn thiện hệ thống
Để xây dựng mô hình văn phòng chuyển giao công nghệ chuyên nghiệp, mỗi trường đại học cần có đội ngũ đa chuyên môn gồm chuyên gia công nghệ hiểu các lĩnh vực nghiên cứu chủ lực, chuyên gia luật sở hữu trí tuệ, chuyên gia phát triển kinh doanh có kinh nghiệm làm việc với công ty và nhà đầu tư, cùng chuyên gia tài chính hiểu về định giá công nghệ. Văn phòng cần ba chức năng cốt lõi: quản lý sở hữu trí tuệ chuyên nghiệp bao gồm tư vấn chiến lược bảo hộ và đàm phán chuyển giao, phát triển kinh doanh công nghệ với việc chủ động tìm kiếm cơ hội thương mại hóa, và hỗ trợ công ty tách ra từ đại học (spin-off) từ tư vấn mô hình kinh doanh đến kết nối nguồn vốn. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu công nghệ với thông tin chi tiết về tiềm năng ứng dụng để chủ động tiếp cận doanh nghiệp thay vì chờ đợi thụ động.
Cải cách chính sách sở hữu trí tuệ cần tiến hành đồng bộ. Mỗi trường đại học xây dựng chính sách chia sẻ doanh thu minh bạch theo nguyên tắc công bằng, được công khai rộng rãi. Quy trình đăng ký và bảo hộ cần đơn giản hóa với hỗ trợ của chuyên gia pháp lý, đại học có quỹ hỗ trợ chi phí cho phát minh có tiềm năng cao. Quan trọng nhất là cải cách hệ thống đánh giá giảng viên để bao gồm đóng góp về chuyển giao công nghệ và tác động kinh tế-xã hội, không chỉ công bố khoa học. Bằng sáng chế được thương mại hóa, công ty tách ra thành công nên được ghi nhận ngang công bố trên tạp chí uy tín. Các trường đại học cần có chính sách rõ ràng cho phép giảng viên tham gia công ty tách ra trong giới hạn nhất định với cơ chế quản lý xung đột lợi ích minh bạch.
Xây dựng hệ sinh thái tài chính cần triển khai nhiều cấp độ. Ở cấp độ đại học, mỗi trường lớn cần thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm riêng với vốn từ ngân sách nhà nước, đóng góp cựu sinh viên và đối tác doanh nghiệp, chuyên đầu tư vào công ty tách ra với mức từ vài chục đến vài trăm nghìn đô la cho giai đoạn tiền hạt giống và hạt giống. Ở cấp quốc gia, cần quỹ đầu tư mạo hiểm công chuyên biệt cho công nghệ sâu và khởi nghiệp đại học, có thể theo mô hình quỹ của quỹ (fund-of-funds) đầu tư vào các quỹ tư nhân có chuyên môn. Nhà nước thiết lập cơ chế đồng đầu tư hoặc đảm bảo một phần rủi ro để khuyến khích quỹ tư nhân đầu tư giai đoạn sớm. Cần có chương trình tài trợ không hoàn lại (grant) cho nghiên cứu tiền thương mại hóa, giúp nhà nghiên cứu phát triển công nghệ từ mức độ phòng thí nghiệm lên nguyên mẫu hoạt động sẵn sàng thương mại hóa.
Thể chế hóa quan hệ trường đại học-doanh nghiệp qua chương trình đối tác có cấu trúc. Đối tác chiến lược là công ty lớn cam kết hợp tác dài hạn, tham gia ban cố vấn khoa/viện, đồng tài trợ phòng thí nghiệm hoặc chương trình nghiên cứu và có quyền ưu tiên tiếp cận công nghệ mới. Đối tác ngành là công ty trung bình cung cấp bài toán thực tế cho sinh viên qua dự án tổng hợp, tài trợ học bổng và nhận ưu tiên tuyển dụng. Đối tác khởi nghiệp là các công ty do cựu sinh viên hoặc giảng viên thành lập, đóng vai trò người hướng dẫn và nhà tuyển dụng. Mô hình phòng thí nghiệm chung giữa đại học và doanh nghiệp nơi cả hai cùng đầu tư và chia sẻ kết quả là cách hiệu quả thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng. Chương trình chuyên gia doanh nghiệp thường trú mời lãnh đạo doanh nghiệp về giảng dạy và tư vấn, trong khi giảng viên đảm nhận vai trò cố vấn công nghệ cho doanh nghiệp.
Phát triển giáo dục khởi nghiệp toàn diện theo các mô-đun từ cơ bản đến chuyên sâu. Cấp độ nền tảng cho tất cả sinh viên năm đầu về tư duy đổi mới và nhận diện cơ hội, mục tiêu là gieo mầm tinh thần khởi nghiệp. Cấp độ trung cấp cho sinh viên có định hướng khởi nghiệp về phương pháp khởi nghiệp tinh gọn, tư duy thiết kế và khám phá khách hàng, sinh viên phát triển và kiểm chứng ý tưởng qua dự án thực tế. Cấp độ chuyên sâu cho sinh viên đang khởi nghiệp về huy động vốn, mở rộng hoạt động và xây dựng đội ngũ, được thiết kế theo hội thảo thực hành với sự tham gia của doanh nhân và nhà đầu tư. Quan trọng là giáo dục chuyên ngành về thương mại hóa công nghệ, mỗi ngành có khóa học riêng kết hợp kiến thức chuyên môn với kỹ năng kinh doanh. Phương pháp giảng dạy chuyển từ thuyết giảng sang học qua làm, sử dụng nghiên cứu tình huống từ doanh nghiệp khởi nghiệp Việt Nam và Đông Nam Á, tổ chức hội thảo với chuyên gia và tạo cơ hội sinh viên thực hành trình bày dự án (pitch) trước khán giả thực sự.
Kích hoạt mạng lưới cựu sinh viên bắt đầu từ việc thành lập ban quản lý chuyên nghiệp xây dựng cơ sở dữ liệu với thông tin về chuyên môn, vị trí công tác và sẵn sàng hỗ trợ. Phát triển nền tảng kỹ thuật số cho phép kết nối dễ dàng dựa trên lĩnh vực quan tâm. Chương trình ghép đôi người hướng dẫn (mentor matching) kết nối sinh viên khởi nghiệp với cựu sinh viên có kinh nghiệm, với quy trình đăng ký, sàng lọc và theo dõi chất lượng. Người hướng dẫn được đào tạo về cách hướng dẫn hiệu quả và ranh giới vai trò. Tổ chức Ngày trình diễn của các cựu sinh viên nơi doanh nghiệp khởi nghiệp sinh viên trình bày trước cựu sinh viên là nhà đầu tư và doanh nhân. Các sự kiện theo ngành tập hợp cựu sinh viên cùng lĩnh vực để trao đổi và hợp tác.
Nuôi dưỡng văn hóa đổi mới qua việc tổ chức diễn đàn chia sẻ về thất bại định kỳ nơi sinh viên, giảng viên và doanh nhân thảo luận cởi mở về dự án không thành công, phân tích nguyên nhân và bài học. Thay đổi cách đánh giá cuộc thi khởi nghiệp để trao giải cho cả nỗ lực thử nghiệm táo bạo, không chỉ ý tưởng tốt nhất. Chương trình giáo dục nhấn mạnh tư duy phản biện và đặt câu hỏi, khuyến khích sinh viên thách thức giả định. Thiết kế không gian vật lý khuyến khích tương tác ngẫu nhiên và hợp tác đa ngành với bàn ghế linh hoạt và công nghệ hỗ trợ cộng tác. Tổ chức cuộc hackathon đa ngành để sinh viên từ các chuyên môn khác nhau cùng giải quyết thách thức thực tế. Vai trò gương mẫu của lãnh đạo và giảng viên rất quan trọng khi họ công khai ủng hộ khởi nghiệp và chia sẻ về thất bại của mình.
Học để thay đổi thế giới
Ở cấp độ đại học, cần xây dựng chiến lược khởi nghiệp rõ ràng với mục tiêu cụ thể, đo lường được. Mỗi trường xác định định vị riêng dựa trên thế mạnh: Trường Công nghệ tập trung sâu về công nghệ chung, còn trường Kinh tế tập trung vào công nghệ tài chính, trường Nông nghiệp vào công nghệ nông nghiệp... Chiến lược bao gồm mục tiêu đo lường như số công ty tách ra, tỷ lệ sống sót, doanh thu từ chuyển giao công nghệ và tác động kinh tế-xã hội. Đầu tư vào năng lực con người là ưu tiên với việc tuyển dụng người có kinh nghiệm thực tế, gửi cán bộ học tập tại các trung tâm khởi nghiệp hàng đầu và mời chuyên gia quốc tế về chuyển giao kinh nghiệm. Xây dựng hệ thống theo dõi và đánh giá để liên tục học hỏi, không chỉ số lượng mà cả hành trình phát triển của doanh nghiệp khởi nghiệp.
Vai trò của Nhà nước cần triển khai trên nhiều phương diện. Về chính sách pháp lý, Luật Giáo dục Đại học cần bổ sung rõ ràng về chức năng chuyển giao công nghệ và khởi nghiệp như sứ mệnh cốt lõi. Luật Sở hữu trí tuệ đơn giản hóa quy trình đăng ký và bảo hộ cho phát minh từ nghiên cứu đại học. Chính sách ưu đãi thuế, tín dụng và mặt bằng có điều khoản đặc biệt cho doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ cao từ đại học như miễn thuế thu nhập ba năm đầu và giảm 50% hai năm tiếp theo.
Về tài chính, Nhà nước tăng đầu tư ngân sách cho hoạt động chuyển giao công nghệ và khởi nghiệp, với cơ chế cấp phát linh hoạt cho phép trường sử dụng tự chủ dựa trên chiến lược và theo dõi kết quả đầu ra. Chuyển từ kiểm soát đầu vào sang đánh giá đầu ra, từ mua thiết bị gì sang tạo ra bao nhiêu giá trị...
Về quản lý, cần tăng quyền tự chủ cho các trường đại học trong quản lý tài chính, nhân sự và chương trình đào tạo. Cho phép các trường được linh hoạt quyết định về lương và các đãi ngộ khác để thu hút nhân tài có kinh nghiệm thực tế; và đơn giản hóa quy trình hành chính liên quan hợp tác quốc tế, thành lập công ty tách ra và quản lý sở hữu trí tuệ. Đưa chỉ tiêu về khởi nghiệp và chuyển giao công nghệ vào hệ thống đánh giá các trường đại học với trọng số hợp lý, thiết kế thông minh và tránh chạy theo số lượng. Đo lường từ đầu vào, quá trình và đầu ra. Thiết lập Giải thưởng quốc gia cho các trường đại học xuất sắc cũng như những giảng viên có đóng góp lớn và các doanh nghiệp khởi nghiệp xuất sắc từ nghiên cứu đại học với giá trị tài chính đáng kể và sự ghi nhận công khai.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đóng vai trò điều phối, hỗ trợ và tạo điều kiện chứ không kiểm soát vi mô. Xây dựng khung hướng dẫn và chuẩn mực tốt nhất dựa trên kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam, cho phép các trường linh hoạt thực hiện. Tạo nền tảng chia sẻ kinh nghiệm giữa các trường và hỗ trợ kết nối với tổ chức quốc tế. Các bộ ngành khác phối hợp. Bộ Khoa học và Công nghệ điều chỉnh chương trình nghiên cứu phát triển do nhà nước tài trợ để dành một phần ngân sách cho thương mại hóa kết quả, không chỉ tập trung xuất bản; có chính sách hỗ trợ đặc biệt cho doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ cao từ đại học về tiếp cận đất đai, vốn và thị trường. Chính quyền địa phương xây dựng khu công nghệ gần đại học lớn, tạo môi trường thuận lợi cho chuyển hóa từ nghiên cứu sang ứng dụng.
Đại học như công cụ chiến lược quốc gia
Mô hình đại học khởi nghiệp ở Việt Nam đã có những khởi đầu đầy hứa hẹn với sự hưởng ứng tham gia nhiệt tình của giới sinh viên, cam kết của các trường và sự ủng hộ từ phía Chính phủ. Tuy nhiên, để tạo ra tác động như TUM, Stanford, MIT hay NUS, Việt Nam cần đầu tư liên tục và toàn diện về thể chế, nguồn lực và văn hóa trên hành trình dài hạn.
Những khoảng trống về chiến lược chuyển giao công nghệ, chính sách về sở hữu trí tuệ, hệ sinh thái tài chính, quan hệ đại học-doanh nghiệp, giáo dục khởi nghiệp, mạng lưới cựu sinh viên và văn hóa đổi mới đều có thể được lấp đầy nếu có quyết tâm chính trị cao, nguồn lực đầy đủ và hành động nhất quán. Việc học hỏi từ các mô hình quốc tế không phải sao chép máy móc mà là thích ứng sáng tạo với bối cảnh Việt Nam, tận dụng thế mạnh về nguồn nhân lực trẻ năng động, tinh thần kinh doanh mạnh mẽ và vị trí địa lý thuận lợi trong khu vực đang phát triển nhanh.
Hành trình chuyển đổi đại học Việt Nam thành trung tâm khởi nghiệp sôi động đòi hỏi thay đổi tư duy căn bản từ coi đại học chỉ là nơi đào tạo và nghiên cứu sang coi đại học là động lực chính cho phát triển kinh tế-xã hội qua đổi mới và khởi nghiệp. Đây là quá trình dài hơi, có thể mất một hoặc hai thập kỷ như kinh nghiệm TUM và NUS cho thấy, nhưng thiết yếu để Việt Nam cạnh tranh trong nền kinh tế tri thức toàn cầu và đạt mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.
Trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ-Trung ngày càng gay gắt và chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu đang được tái cấu trúc, Việt Nam có cơ hội hiếm có để định vị mình như một mắt xích quan trọng – nhưng chỉ khi có nền tảng đổi mới sáng tạo đủ mạnh. Đại học khởi nghiệp chính là nơi gieo hạt giống cho năng lực đó.
Thành công sẽ đến khi các trường đại học của Việt Nam không chỉ tạo ra doanh nghiệp khởi nghiệp đơn lẻ mà xây dựng được hệ sinh thái tự duy trì, nơi sinh viên và giảng viên được hỗ trợ toàn diện từ ý tưởng đến mở rộng quy mô, công nghệ từ phòng thí nghiệm liên tục chuyển hóa thành giá trị kinh tế-xã hội, và công ty tách ra đóng góp quan trọng vào phát triển đất nước qua việc tạo việc làm chất lượng cao, đóng góp thuế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong các ngành công nghệ chiến lược.