#32 - Mỹ và Israel tấn công Iran: Khi “cơn thịnh nộ Donroe” vượt ra ngoài Tây bán cầu
Ngô Hoàng
Chưa đầy hai tháng sau khi lực lượng Đặc nhiệm Delta của Mỹ bắt giữ vợ chồng Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro vào ngày 3/1/2026, rạng sáng ngày 28/2 vừa qua, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã quyết định tiến hành cuộc không kích chung Mỹ và Israel với quy mô lớn nhất trong lịch sử hiện đại vào Iran, giết chết lãnh tụ tối cao Ayatollah Ali Khamenei và hàng loạt tướng lĩnh cao cấp của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (Islamic Revolutionary Guard Corps - IRGC). Chiến dịch quân sự chưa từng có này được Mỹ đặt mật danh “Epic Fury” (Cơn thịnh nộ) và Israel gọi là “Roaring Lion” (Sư tử gầm) đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quan hệ quốc tế, đặt ra nhiều câu hỏi về cả luật pháp quốc tế cũng như tương lai của khu vực Trung Đông nói riêng và trật tự thế giới nói chung.
Chủ nghĩa hiện thực tấn công và logic quyền lực
Đối với những ai đã theo dõi các bài phân tích của Scholicymaker trong những tuần qua, diễn biến này không hoàn toàn bất ngờ. Từ bài viết “Sự trở lại của Chính trị cường quyền qua lăng kính John Mearsheimer” cho đến phân tích về “Học thuyết Donroe và hệ lụy đối với trật tự thế giới”, một xu hướng chiến lược rõ ràng từ chính quyền Trump 2.0 – đó là sự sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự bất chấp Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế để định hình lại trật tự khu vực và toàn cầu theo những lợi ích quốc gia của Mỹ đã được nhận diện. Và cuộc tấn công mới nhất vào Iran là biểu hiện đỉnh cao của xu hướng này, đồng thời đặt ra những câu hỏi quan trọng về tương lai của hệ thống quốc tế trong những năm tới.
Để hiểu sâu hơn về động cơ của cuộc tấn công Iran, cần đặt sự kiện này trong khung phân tích của chủ nghĩa hiện thực tấn công (offensive realism) do giáo sư John Mearsheimer đề xuất. Theo lý thuyết này, trong hệ thống quốc tế vô chính phủ, các cường quốc không bao giờ thỏa mãn với mức độ quyền lực hiện có mà luôn tìm cách tối đa hóa quyền lực tương đối so với đối thủ. Hành động của Mỹ tại Iran phản ánh chính xác logic này: Khi nhận thấy Iran đang suy yếu do khủng hoảng kinh tế và bất ổn xã hội, Washington đã chớp thời cơ tấn công để thay đổi chế độ ở Tehran nhằm loại bỏ cái mà họ luôn gọi là “mối đe dọa tiềm tàng”.
Tuy nhiên, Francis Fukuyama - học giả Đại học Stanford và tác giả của cuốn sách "Sự cáo chung của lịch sử” (The End of History) - trong cuộc phỏng vấn với Yascha Mounk ngay sau cuộc tấn công ngày 28/2 đã đưa ra cảnh báo quan trọng về giới hạn của vũ lực: "Anh không thể giết tất cả kẻ thù, và anh cũng không thể bịt miệng tất cả những người chỉ trích. Anh thực sự cần giữ lại ý thức về tính chính danh". Nhận định này cho thấy dù chiến thắng quân sự có thể đạt được trong ngắn hạn, việc duy trì ảnh hưởng lâu dài đòi hỏi nhiều hơn sức mạnh vũ trang.
Bài viết trước đã đề cập đến Venezuela nhưng cần phân tích sâu hơn sự khác biệt cấu trúc giải thích tại sao chiến lược "khoán trắng" cho người dân nổi dậy sẽ khó thành công ở Iran. Fukuyama chỉ ra điểm khác biệt then chốt: "Vấn đề chính cho bất kỳ lực lượng đối lập dân chủ nào ở Iran là nó không tồn tại. Nó không phải là một lực lượng có tổ chức. Chính thể Iran đã rất giỏi trong việc loại bỏ bất kỳ ai nổi lên. Ở đây không có María Corina Machado như ở Venezuela". Ở Venezuela, phe đối lập có tổ chức bài bản với lãnh đạo thống nhất và sự hậu thuẫn mạnh từ cộng đồng lưu vong ở Mỹ. Trong khi đó, Cộng hòa Hồi giáo Iran đã bám rễ từ năm 1979 với hệ thống giáo sĩ và ý tưởng cách mạng Hồi giáo ăn sâu vào cấu trúc xã hội. IRGC không chỉ là một lực lượng vũ trang hùng mạnh được trang bị nhiều loại vũ khí hiện đại, mà còn kiểm soát sâu rộng nền kinh tế và được nuôi dưỡng bởi cả tư tưởng lẫn lợi ích vật chất. Điều này giải thích tại sao mất đi Lãnh tụ Tối cao Khamenei không đồng nghĩa với sự sụp đổ của cả hệ thống ở Tehran.
Bối cảnh cuộc tấn công
Để hiểu được logic đằng sau quyết định tấn công Iran, cần đặt sự kiện này trong bối cảnh rộng hơn của chiến lược Trump 2.0 đối với Trung Đông và mối quan hệ căng thẳng kéo dài giữa một bên là Washington và Tel Aviv với bên kia là Tehran. Kể từ khi Israel tấn công Iran vào tháng 4 và tháng 10/2024 và việc Iran trả đũa, rồi tiếp đến cuộc xung đột 12 ngày vào tháng 6/2025 mà Mỹ đã trực tiếp tham gia khi đưa nhiều máy bay vào không kích các cơ sở hạt nhân của Iran, căng thẳng giữa hai bên đã leo thang đến mức rất khó kiểm soát.
Bên trong Iran, từ cuối tháng 12/2025, các cuộc biểu tình phản đối chính quyền Hồi giáo Iran với quy mô lớn đã bùng lên tại hơn 100 điểm trên toàn quốc mà đỉnh điểm là vào ngày 8 và 10/1/2026, thể hiện sự bất bình của dân chúng ngày càng sâu rộng trước tình hình kinh tế khủng hoảng trầm trọng, sự mất giá nhanh của đồng Rial và giá cả tăng vọt. Chính phủ Iran đã đáp trả bằng các biện pháp cứng rắn để kiểm soát tình hình, bất chấp việc Tổng thống Trump công khai bày tỏ sự ủng hộ đối với người biểu tình Iran và đe dọa sẽ tiến hành can thiệp quân sự nếu Tehran không chấm dứt đàn áp người biểu tình. Không lâu sau đó ông Trump đã công khai cho biết một “hạm đội” của Mỹ bao gồm hai tàu sân bay USS Abraham Lincoln và USS Gerald Ford cùng nhiều tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường đang tiến về Trung Đông. Mỹ và các quan chức phương Tây cho biết Washington đã đưa ra ba yêu cầu cốt lõi cho Iran: Chấm dứt vĩnh viễn mọi hoạt động làm giàu uranium, hạn chế nghiêm ngặt chương trình tên lửa đạn đạo, và ngừng hoàn toàn hỗ trợ các lực lượng đồng minh khu vực như Hamas, Hezbollah và Houthi.
Điểm đáng chú ý là ngay cả khi căng thẳng leo thang đến đỉnh điểm, Mỹ và Iran vẫn tiến hành các cuộc đàm phán tại Oman với Vòng đầu tiên tại Muscat vào ngày 6/2/2026. Ngày 27/2, chỉ một ngày trước khi cuộc tấn công hiện nay diễn ra, Ngoại trưởng Oman Badr Albusaidi còn tuyên bố “đã có dấu hiệu đột phá với khả năng Iran đồng ý không tích trữ uranium được làm giàu”. Tuy nhiên, Tổng thống Trump đã có đánh giá khác khi nói với các phóng viên rằng ông không hài lòng với việc “Iran không sẵn sàng cho những gì chúng tôi cần”. Dường như Iran vẫn kiên quyết không chấp nhận từ bỏ các chương trình phát triển hạt nhân và tên lửa hành chình như Mỹ yêu cầu; và đấy có lẽ là lý do chính khiến ông Trump quyết định phát động cuộc tấn công Iran hiện nay.
Chiến dịch Cơn thịnh nộ “Epic Fury”
Với lý do “rất đơn giản” như đã nói nói trên đài NBC News ngày 1/3: “Họ không sẵn lòng ngừng nghiên cứu hạt nhân. Họ không sẵn lòng nói rằng họ sẽ không sở hữu vũ khí hạt nhân”, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ra lệnh cho các lực lượng của Mỹ ở khu vực phối hợp cùng Israel bắt đầu cuộc tấn công dữ dội và lớn nhất từ trước tới nay vào Iran vào sáng ngày 28/2/2026. Đó là ngày đầu tuần theo lịch Iran, khi hàng triệu người dân đang đi làm hoặc đến trường, bên cạnh các lực lượng của Mỹ, khoảng 200 máy bay chiến đấu của không quân Israel đã tham gia vào chiến dịch được mô tả là “cuộc hành quân trên không lớn nhất trong lịch sử Lực lượng phòng vệ Israel (IDF)”, nhắm vào hơn 500 mục tiêu ở hầu hết các tỉnh thành của Iran như Tehran, Isfahan, Qom, Karaj và Kermanshah, trước hết các trung tâm đầu não chính trị, quốc phòng bao gồm các hệ thống phòng không và bệ phóng tên lửa ở Iran.
Kết quả là, theo phát biểu của ông Trump, đã có 48 lãnh đạo Iran thiệt mạng, bao gồm cả Lãnh tụ Tối cao Iran Ayatollah Ali Khamenei; còn như chính Tehran cũng đã xác nhận, ngoài ông Khamenei, nhiều nhân vật cấp cao hàng đầu của bộ máy an ninh – quốc phòng Iran, bao gồm cả cố vấn của ông Khamenei, Tư lệnh IRGC, Tổng Tham mưu trưởng và Bộ trưởng Quốc phòng Iran đã bị tiêu diệt. Về thương vong dân sự, theo Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ Iran công bố, đã có 201 dân thường thiệt mạng và 747 người bị thương trong ngày đầu tiên của cuộc tấn công, trong đó bi thảm nhất là cuộc không kích vào Trường Tiểu học nữ sinh Shajareh Tayyebeh ở thị trấn Minab phía nam Iran, khiến 108 học sinh thiệt cộng đồng quốc tế đồng loạt lên án. Không chỉ vậy, chiều ngày 1/3 (giờ Mỹ), Tổng thống Mỹ còn phát biểu qua video kêu gọi người dân Iran nổi dậy và đề nghị các lực lượng của IRGC hạ vũ khí để được “hưởng quyền miễn trừ hoàn toàn”, nếu không “sẽ chắc chắn phải đối mặt với cái chết”.
Trong khi đó Iran, về mặt quân sự, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) ngay lập tức tuyên bố sẽ phát động “chiến dịch phản công quyết liệt nhất” trong lịch sử nhắm vào Israel và tất cả các căn cứ của Mỹ ở khu vực. Thực tế là Tehran đã đồng loạt phát động một loạt các cuộc tấn công trả đũa bằng tên lửa đạn đạo và máy bay không người lái nhắm vào Israel cũng như các căn cứ quân sự Mỹ tại Jordan, Kuwait, Bahrain, Qatar, Iraq, Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE). Như vậy, thay vì chỉ nhắm vào các căn cứ Mỹ có hệ thống phòng thủ mạnh, Tehran đã triển khai máy bay không người lái nhắm vào cả một số hạ tầng dân sự tại Dubai và Riyadh. Theo quan điểm của Tehran, các quốc gia Vùng Vịnh từng giữ lập trường trung lập nay bị xem là bên đồng lõa đã tạo điều kiện cho các cuộc không kích của Mỹ và Israel.
Về mặt chính trị, Tehran đã quyết định Quốc tang 40 ngày để tưởng nhớ ông Khamenei, đồng thời kích hoạt ngay thủ tục đặc biệt để chọn ban lãnh đạo mới thay thế đại giáo chủ Khamenei vừa bị sát hại. Kết quả là giáo sỹ cao cấp Ayatollah Alireza Arafi làm Lãnh tụ Tối cao lâm thời, người cùng Tổng thống Masoud Pezeshkian và Chánh án Hossein Mohseni-Eje’I đã được chọn hợp thành Bộ ba Ban lãnh đạo đất nước tạm thời thay ông Khamenei trong thời gian tới. Iran cũng đã nhanh chóng bổ nhiệm những sỹ quan cao cấp lên thay những quan chức an ninh – quân sự cấp cao vừa thiệt mạng. Bên cạnh đó, chính quyền cũng đã tổ chức để hàng vạn người Iran đổ ra khu vực trung tâm thủ đô Tehran biểu thị sự căm phẫn trước hành động tấn công của Mỹ và Israel, sự đoàn kết và quyết tâm trả thù cho Lãnh tụ Tối cao Khamenei và những người đã bị giết hại.
Động cơ và hệ quả của chiến dịch quân sự hiện nay
Trong video thông báo chiến dịch được đăng trên mạng xã hội Truth Social, Tổng thống Trump đã nêu rõ ba mục tiêu chiến lược của chiến dịch “Cơn thịnh nộ” hiện nay là: (i) Loại bỏ chương trình hạt nhân của Iran; (ii) Phá hủy năng lực tên lửa và hải quân của nước này; và (iii) Thay đổi lãnh đạo ở Tehran. Ông Trump cũng đã trực tiếp kêu gọi người dân Iran nổi dậy lật đổ chính phủ, tuyên bố: “Khi chúng tôi hoàn thành, hãy tiếp quản chính phủ của các bạn. Nó sẽ là của các bạn. Đây có lẽ sẽ là cơ hội duy nhất của các bạn trong nhiều thế hệ”. Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu cũng đưa ra tuyên bố tương tự, kêu gọi “mọi bộ phận của nhân dân Iran hãy trút bỏ ách thống trị của chế độ hiện tại và mang lại một Iran tự do và hòa bình” và khẳng định các hành động của Mỹ và Israel “sẽ tạo điều kiện cho người dân Iran dũng cảm nắm lấy vận mệnh của mình”.
Từ góc độ lý thuyết chủ nghĩa hiện thực tấn công của Mearsheimer như đã trình bày trong các bài viết trước, cuộc tấn công Iran lần này thể hiện sự kết hợp giữa ba động lực chiến lược. Thứ nhất là sự tự tin từ thành công Venezuela, khi chiến dịch “Quyết tâm tuyệt đối” nhanh chóng bắt giữ được Tổng thống Maduro mà không gây thương vong cho lính Mỹ đã củng cố quyết tâm đơn phương sử dụng biện pháp quân sự của ông Trump. Thứ hai là nhận thức về sự suy yếu của khả năng răn đe của Iran, với kinh nghiệm cho thấy Tehran không có khả năng hoặc không sẵn sàng đáp trả tương xứng các đòn tấn công trước đây. Thứ ba là cơ hội chiến thuật khi mạng lưới phòng thủ quân sự khu vực của Mỹ vừa được hoàn thiện.
Tuy nhiên, chiến lược thay đổi chế độ ở Iran đối mặt với những thách thức cấu trúc nghiêm trọng. Bà Linda Robinson từ Hội đồng quan hệ đối ngoại (Council on Foreign Relations - CFR) chỉ ra rằng việc tiêu diệt lãnh tụ tinh thần Ali Khamenei không đồng nghĩa với thay đổi chế độ bởi Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) mới là xương sống của hệ thống chính trị Iran và có khả năng nhanh chóng tái lập bộ máy lãnh đạo. Hơn nữa, Mỹ chưa có một đối tác thực tế nào bên trong Iran để hợp tác, khác với trường hợp Venezuela nơi Washington có thể làm việc với phe đối lập. Quá trình lật đổ chế độ được đề ra như một sự “khoán trắng” cho người dân Iran, trong khi Mỹ chưa có kế hoạch đưa bộ binh vào thực chiến.
Thực tế là người dân Iran không được vũ trang và thiếu phương tiện để thay đổi một hệ thống chính trị có bộ máy an ninh chặt chẽ như IRGC. Nếu ông Trump triển khai lực lượng đặc biệt, họ sẽ phải đối mặt với thương vong đáng kể, dẫn đến nguy cơ “leo thang nhiệm vụ” (mission creep) tương tự như đã xảy ra ở Iraq sau cuộc xâm lăng vào năm 2003. Trong khi đó, Iran vẫn duy trì mạng lưới đồng minh đáng kể trong khu vực. Mặc dù Hezbollah ở Lebanon đã bị suy yếu, lực lượng Houthi ở Yemen vẫn duy trì khả năng hoạt động trên Biển Đỏ và Ấn Độ Dương. Kataib Hezbollah ở Iraq đã tuyên bố sẵn sàng hành động chống lại các căn cứ Mỹ. Khi năng lực quân sự quy ước bị suy giảm, nguy cơ dịch chuyển sang các hoạt động phi đối xứng, bao gồm hoạt động tình báo và tấn công mạng trên quy mô toàn cầu, sẽ gia tăng.
Iran kiểm soát eo biển Hormuz, “yết hầu” trên tuyến đường hàng hải quan trọng nhất thế giới cho dòng chảy dầu mỏ toàn cầu, nằm giữa Iran và Oman và là cửa ngõ duyu nhất từ Vịnh Ba Tư ra Ấn Độ dương. Theo số liệu năm 2024, mỗi ngày có khoảng 20 triệu thùng dầu thô đi qua đây, tương đương khoảng 20% lượng dầu vận chuyển bằng điển biển trên toàn cầu. Nếu Iran làm gián đoạn dòng chảy dầu mỏ qua eo biển, tác động đến giá năng lượng toàn cầu sẽ là tức thời và nghiêm trọng. Bên cạnh đó còn có khoảng 20-30% lượng khí tự nhiên hóa lỏng thương mại của toàn thế giới đi qua eo biển này. Trường hợp Hormuz bị đóng, các tàu bè sẽ buộc phải đi vòng qua Mũi Hảo Vọng khiến hải trình dài thêm khoảng 6.500 km kéo theo thời gian chuyên trở và chi phí vận tải tăng vọt.
Theo ông Bob McNally, một cựu cố vấn năng lượng của Nhà Trắng, "thị trường không đánh giá đúng mức việc Tehran có kho dự trữ lớn mìn và tên lửa tầm ngắn có thể gây gián đoạn nghiêm trọng giao thông trong tuyến đường thủy". Ông McNally cũng cảnh báo rằng Iran có thể làm cho eo biển Hormuz trở nên không an toàn cho giao thông thương mại, khiến giá dầu tăng vọt lên trên 100 USD/thùng.
Thực tế là ngay sau cuộc tấn công, Iran đã phát thông báo cấm các tàu tuyền ở khu vực đi qua eo biển này; một số tàu chở dầu và khí đốt nước ngoài đã bắt đầu tránh tuyến đường này, riêng Qatar đã chính thức yêu cầu các chủ tàu tạm dừng hoạt động trên tuyến đường biển này. Ngân hàng Thụy Sĩ Lombard Odier ước tính giá dầu có thể tạm thời tăng lên 100 USD hoặc cao hơn, và giá khí đốt tự nhiên hóa lỏng (Liquefied Natural Gas - LNG) toàn cầu cũng sẽ bị ảnh hưởng. Còn ông Ali Vaez, Giám đốc Dự án Iran tại International Crisis Group, thì nhận định: "Cú sốc sẽ vượt xa thị trường năng lượng, thắt chặt điều kiện tài chính, thúc đẩy lạm phát và đẩy các nền kinh tế mong manh gần hơn với suy thoái trong vài tuần." Đây là điểm quan trọng cần lưu ý đối với Việt Nam - một nền kinh tế có độ mở cao và phụ thuộc vào xuất khẩu.
Cuộc tấn công vào Iran đã gây ra phản ứng đa chiều từ cộng đồng quốc tế, đặc biệt là sự đối lập mạnh mẽ giữa một bên là lập trường của Mỹ-Israel-phương Tây với bên kia là Iran-Nga-Trung Quốc phản ánh sự phân hóa sâu sắc giữa các nước trên về sự kiện này. Trong tình hình đó, mặc dù Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc António Guterres đã lên án cuộc tấn công và kêu gọi quay lại đàm phán ngay lập tức; cho rằng “hành động quân sự mang theo nguy cơ kích hoạt một chuỗi sự kiện mà không ai có thể kiểm soát ở khu vực biến động nhất thế giới”, nhưng cuộc họp khẩn cấp của Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc theo đề nghị của Iran đã diễn ra như một cuộc cãi vã không khoan nhượng giữa các bên đối đầu và không đem lại kết quả cụ thể nào. Theo CNBC, mặc dù đều lên án mạnh mẽ hành động của Mỹ và Israel, cả Nga và Trung Quốc đều không có khả năng hoặc ý muốn trực tiếp can thiệp quân sự để bảo vệ Tehran. "Nhiều năm chiến tranh kéo dài ở Ukraine đã làm suy giảm năng lực của Nga trong việc chiếu sức mạnh ra ngoài biên giới". Còn Trung Quốc, mặc dù có lợi ích kinh tế lớn với Iran, cũng kiềm chế không đưa ra cam kết quân sự cụ thể. Điều này củng cố bài học về giới hạn của quan hệ đối tác chiến lược đã nêu trong bài gốc.
Không chỉ vậy, cuộc tấn công mà ông Trump vừa phát động chống Iran cũng bộc lộ những mâu thuẫn nội tại trong chính trường nước Mỹ. Trong khi phần lớn Đảng Cộng hòa ủng hộ chiến dịch, một số tiếng nói theo chủ nghĩa biệt lập trong phong trào MAGA - Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại - đã bày tỏ lo ngại về việc Mỹ bị kéo vào một cuộc xung đột mới ở Trung Đông. Lãnh đạo phe thiểu số Hạ viện Hakeem Jeffries chỉ trích Tổng thống Trump đã “không xin phép Quốc hội trước khi tấn công Iran”, đặt ra câu hỏi về quy trình ra quyết định. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, Thượng nghị sĩ John Fetterman, một tiếng nói thường đi ngược với phe đa số trong Đảng Dân chủ, đã hòa cùng những người của Đảng Cộng hòa hoan nghênh chiến dịch quân sự chống Iran mà Tổng thống Trump vừa phát động.
Trật tự mới ở khu vực và những bài học chiến lược
Hiện tại ngoài tuyên bố rất tự tin của ông Trump, người phát động cuộc chiến, rằng nó sẽ kéo dài khoảng 4 tuần, khó có ai có thể dự báo được chắc chắn những gì sắp diễn ra. Bất luận kết cục cuối cùng như thế nào, cuộc tấn công của Mỹ và Israel vào Iran ngày 28/2/2026 đánh dấu một bước ngoặt lớn trong cấu trúc quyền lực khu vực Trung Đông và đặt ra nhiều câu hỏi quan trọng về tương lai của hệ thống quốc tế. Đồng thời, nó cũng mang lại nhiều bài học chiến lược đáng suy ngẫm cho tất cả các quốc gia.
Bài học đầu tiên và quan trọng nhất liên quan đến tầm quan trọng của ổn định chính trị - xã hội và phát triển kinh tế bền vững. Iran rơi vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng với siêu lạm phát, sụp đổ tỷ giá và bất ổn xã hội lan rộng, tạo ra điều kiện để các thế lực bên ngoài can thiệp. Khi nền kinh tế suy yếu và người dân bất mãn, năng lực răn đe quốc gia cũng bị xói mòn theo. Đây là minh chứng rõ ràng rằng an ninh quốc gia không chỉ phụ thuộc vào sức mạnh quân sự mà còn dựa trên nền tảng kinh tế vững chắc và sự đồng thuận xã hội.
Bài học thứ hai liên quan đến giá trị của chính sách đối ngoại cân bằng và đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Iran đã rơi vào tình thế cô lập sau nhiều thập kỷ đối đầu trực diện với Mỹ và phương Tây, trong khi quan hệ với Nga và Trung Quốc tuy được củng cố nhưng không đủ để cung cấp sự bảo vệ thực tế. Sự kiện này cho thấy các quốc gia cần xây dựng mạng lưới quan hệ rộng khắp, tránh phụ thuộc quá mức vào bất kỳ cường quốc đơn lẻ nào, và duy trì không gian chiến lược để điều chỉnh linh hoạt trước các biến động quốc tế.
Bài học thứ ba liên quan đến giới hạn của quan hệ đối tác chiến lược trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn. Mặc dù Iran có quan hệ rất gần gũi và thân thiết với cả Nga và Trung Quốc, những nước đều đã lên án mạnh mẽ cuộc tấn công, nhưng cả hai đều không có khả năng hoặc thậm chí là cả ý chí để triển khai một hình thức can thiệp quân sự nào đó nhằm bảo vệ chế độ ở Tehran. Thực tế này phản ánh một nguyên tắc cơ bản của quan hệ quốc tế là không có quốc gia nào sẵn sàng đặt lợi ích cốt lõi của mình vào rủi ro để bảo vệ một đồng minh, đặc biệt khi đối thủ là siêu cường quân sự hàng đầu thế giới. Các quốc gia cần xây dựng năng lực tự chủ và không ảo tưởng rằng quan hệ đối tác có thể thay thế cho sức mạnh quốc gia.
Bài học thứ tư liên quan đến tầm quan trọng của các cơ chế đa phương và đoàn kết khu vực. Cuộc tấn công Iran diễn ra trong bối cảnh Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế không có khả năng ngăn chặn hoặc kiềm chế hành động đơn phương của siêu cường. Điều này đặt ra thách thức nghiêm trọng cho tất cả các quốc gia vừa và nhỏ về việc làm thế nào để bảo vệ lợi ích quốc gia trong một hệ thống mà sức mạnh vẫn là yếu tố quyết định cuối cùng. Các tổ chức khu vực như ASEAN, với nguyên tắc đồng thuận và không can thiệp, cần tiếp tục được củng cố như một công cụ để các quốc gia thành viên duy trì tiếng nói và không gian hành động trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn gia tăng.
Nhìn về phía trước, tình hình Trung Đông sau ngày 28/2/2026 vẫn còn nhiều bất định. Cuộc chiến hiện nay khó có thể sớm kết thúc được, thậm chí có thể còn lan rộng và không loại trừ khả năng cả khu vực có thể trùm trong biển lửa khi các lực lượng thuộc “Trục kháng chiến” vốn được Iran bảo trợ quyết định trực tiếp tham chiến để ủng hộ Tehran. Dù có ưu thế về mọi mặt, không loại trừ khả năng Mỹ sẽ bị sa lầy trong cuộc chiến này, giống như ở Iraq và Afghanistan trước đây. Riêng Iran, dù bị tổn thất nặng nề về cả đội ngũ lãnh đạo chỉ huy cấp cao và cơ sở hạ tầng quân sự, vẫn khó có thể sụp đổ như Mỹ toan tính; trong khi IRGC vẫn duy trì được khả năng thích ứng dù hàng loạt tư lệnh, tướng lĩnh cấp cao lần lượt bị triệt hạ. Với năng lực quốc phòng còn nhiều bí ẩn không thể coi nhẹ của Iran và với quyết tâm không khuất phục như đã thể hiện và khả năng cuộc xung đột kéo dài và lan rộng, tình hình an ninh chính trị của khu vực Trung Đông đã vĩnh viễn không còn như trước thời điểm cuộc chiến nổ ra. Đồng thời, tác động kinh tế từ việc eo biển Hormuz bị gián đoạn kéo dài có thể lan rộng ra toàn cầu, ảnh hưởng không chỉ đến giá năng lượng mà còn là sự tăng trưởng của cả khu vực và nhiều quốc gia khác.
Cuộc tấn công Iran hiện nay của Mỹ và Israel là minh chứng mới nhất cho sự trở lại của chính trị cường quyền mà giáo sự quan hệ quốc tế nổi tiếng người Mỹ Mearsheimer đã dự báo. Trong thế giới mà sức mạnh vẫn là ngôn ngữ cuối cùng của quan hệ quốc tế, các quốc gia cần hết sức tỉnh táo nhận thức về vị thế của mình, củng cố sự đoàn kết bên trong và năng lực quốc gia toàn diện về mọi mặt, duy trì quan hệ cân bằng với các cường quốc, hết sức tránh tạo cớ cho bên ngoài can thiệp, và tích cực tham gia vào các cơ chế đa phương để bảo vệ lợi ích quốc gia trong một môi trường quốc tế ngày càng phức tạp và khó lường.