#30- Iran và Bài học nghìn năm từ Tôn Tử và Clausewitz

Ngô Hoàng

Cuộc tấn công của Mỹ và Israel vào Iran tháng 3/2026 đặt ra câu hỏi cũ mà lịch sử chiến tranh chưa bao giờ ngừng nhắc đến: Khi nào thì đủ và ai là người quyết định khi đã đến điểm dừng?

Chiến tranh có logic riêng

Trong bài viết "Điều khó nhất trong chiến tranh không phải là thắng trận" đăng trên Tia Sáng ngày 6/3/2026, Tiến sỹ Ngô Di Lân đã đề cập đến một nghịch lý cốt lõi của mọi cuộc chiến là “thắng lợi quân sự không đồng nghĩa với thành công chiến lược”; Thủ tướng của nước Đức Bismarck đã biết dừng sau khi đánh bại Áo năm 1866; Tổng thống của Mỹ Truman đã sa thải MacArthur khi viên Tướng chỉ huy cuộc chiến can thiệp của Mỹ ở Triều Tiên còn muốn tiến tới tận biên giới với Trung Quốc, hay Bush "cha" không tiến vào thủ đô Baghdad của sau khi giải phóng Kuwait khỏi sự xâm lăng của Iraq. Tất cả họ đều hiểu rằng chiến tranh có logic leo thang của riêng nó, và nếu chính trị không đặt ra điểm dừng, bạo lực sẽ tự tìm đến cực điểm.

Carl von Clausewitz, nhà lý luận quân sự vĩ đại người Phổ thế kỷ 19, đã cảnh báo về xu hướng này trong tác phẩm kinh điển "Bàn về chiến tranh". Ông cho rằng chiến tranh trong lý thuyết thuần túy sẽ có xu hướng leo thang đến cực điểm tuyệt đối vì mỗi bên đều cố gắng áp đặt ý chí lên đối phương, dẫn đến hành động và phản ứng liên tục gia tăng. Nhưng Clausewitz cũng khẳng định rằng chiến tranh thực tế không bao giờ đạt đến cực điểm lý thuyết này, bởi nó luôn bị kiềm chế bởi các tính toán chính trị, hạn chế về nguồn lực, và đặc biệt là sự kiểm soát của giới lãnh đạo chính trị. Câu nói nổi tiếng của ông "Chiến tranh là sự tiếp nối của chính trị bằng phương tiện khác" không chỉ là một nhận định mà còn đồng thời là một mệnh lệnh: Chính trị phải dẫn dắt chiến tranh, chứ không phải ngược lại.

Điều đáng lo ngại nhất trong tình hình Iran hiện nay là sự mờ nhạt của mệnh lệnh đó. Sau 7 ngày của Chiến dịch Epic Fury, mục tiêu của Washington đã thay đổi ít nhất bốn đến năm lần. Ban đầu là "vô hiệu hóa mối đe dọa hạt nhân", sau đó thành "tiêu diệt năng lực tên lửa và hải quân", rồi mở rộng thành "thay đổi chế độ" khi Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei bị tiêu diệt, và gần đây Tổng thống Trump thậm chí còn tuyên bố “Mỹ cần có vai trò trong việc chọn lãnh đạo tiếp theo của Iran”. Khi mục tiêu liên tục dịch chuyển, chiến tranh mất đi la bàn định hướng. Và khi chiến tranh mất la bàn, nó sẽ tự tìm đường đi riêng theo đúng logic leo thang mà Clausewitz đã cảnh báo.

Bài học Iraq vẫn còn đó

Nhà nghiên cứu Ngô Di Lân nhắc đến Afghanistan như một bằng chứng về sự lan tràn mục tiêu. Nhưng Iraq 2003 có lẽ là tiền lệ sát sườn hơn với Iran. Cuộc xâm lược Iraq bắt đầu với lý do nước này bí mật sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt nhẽ ra không được phép có; và nhanh chóng biến thành "xây dựng nền dân chủ" mà không có bất kỳ kế hoạch hậu chiến nào. Quyết định giải tán quân đội Iraq và đảng Baath đã châm ngòi cho cuộc nổi dậy kéo dài hơn một thập kỷ, cuối cùng sinh ra nhà nước Hồi giáo tự xưng ISIS. Tướng Colin Powell đã từng cảnh báo chính quyền Bush: "Nếu anh làm vỡ nó, anh sở hữu nó". Hơn hai mươi năm sau, Powell không còn, nhưng lời cảnh báo của ông vẫn vang vọng.

Các chuyên gia từ các viện nghiên cứu quốc tế nổi tiếng của Mỹ như Brookings Institution, Council on Foreign Relations, và Carnegie Endowment đều chỉ ra sự tương đồng đáng báo động giữa tư duy năm 2003 và hiện tại. Ảo tưởng chiến thắng chóng vánh, phụ thuộc quá mức vào các nhóm lưu vong để đánh giá tình hình nội bộ, và hoàn toàn không có kế hoạch rõ ràng để tái thiết quốc gia sau khi phá hủy các cấu trúc cũ. Theo Intercept, các quan chức được thông báo về kế hoạch tấn công Iran cho biết chính quyền của Tổng thống Trump đã "không có manh mối gì cả", "không có lý do thực sự, không có mục tiêu cuối cùng, không có kế hoạch hậu chiến". Nhưng Iran không phải Iraq và đây chính là điều mà bài học từ Tôn Tử trở nên cực kỳ quan trọng.

"Biết địch, biết ta"- câu hỏi chưa được Washington trả lời

Tôn Tử, nhà tư tưởng quân sự lới của Trung Quốc từ thế kỷ 5 trước Công nguyên, để lại di sản trí tuệ được đọc tại các học viện quân sự hàng đầu thế giới đến tận ngày nay, từ West Point đến Sandhurst. Trong "Binh pháp Tôn Tử", ông viết: "Biết địch biết ta, trăm trận không nguy; không biết địch mà biết ta, một thắng một bại; không biết địch không biết ta, mỗi trận đều nguy". Chiểu theo đó, câu hỏi đặt ra là: Washington và Tel Aviv thực sự "biết" Iran đến mức nào?

Iran không phải một quốc gia được dựng lên từ biên giới thuộc địa như Iraq hay nhiều nước Trung Đông khác. Đây là một nền văn minh có lịch sử liên tục hơn 3000 năm, từ Đế chế Achaemenid của Cyrus Đại đế đến nay. Người Iran tự hào về bản sắc dân tộc của họ một cách sâu sắc ít quốc gia nào sánh được. Theo các nhà sử học, "dù bị xâm lăng bởi Hy Lạp, Ả-rập, Thổ Nhĩ Kỳ, và Mông Cổ, bản sắc dân tộc Iran vẫn liên tục được khẳng định và bảo tồn, cho phép nó phát triển như một thực thể chính trị và văn hóa riêng biệt, thậm chí còn ảnh hưởng sâu sắc lên chính những kẻ xâm lược."

Điều này có ý nghĩa gì? Nó có nghĩa là một khi có nỗ lực "thay đổi chế độ" ở Tehran từ bên ngoài, nó sẽ gặp phải sức kháng cự bền bỉ hơn nhiều so với trường hợp Iraq trước đây. Điều đó có nghĩa là ngay cả khi nhiều người Iran có những bất đồng với chính quyền, họ có thể phản đối sự can thiệp quân sự từ bên ngoài còn mạnh mẽ hơn. Và nó cũng có nghĩa là kỳ vọng về một cuộc chuyển giao quyền lực êm thắm sau khi đã hạ sát được ông Khamenei là hoàn toàn phi thực tế. Các nhà phân tích từ Arab Center ở thủ đô Washington DC của Mỹ nhận định: "Chế độ Iran đã sống sót qua chiến tranh Iran - Iraq, các cuộc biến động nội bộ năm 2009, 2019-2020, và 2022. Cấu trúc quyền lực được thiết lập qua gần nửa thế kỷ với bộ máy an ninh và hành chính ăn sâu bám rễ vào mọi tầng lớp xã hội. Nói  một cách đơn giản, đây là một hệ thống có sức chống chịu cao trước các áp lực từ bên ngoài".

Nghệ thuật “Chiến thắng mà không cần giao chiến”

Tôn Tử để lại một nguyên tắc tối thượng: "Đánh trăm trận thắng trăm trận chưa phải giỏi trong giỏi; không đánh mà khuất phục được quân địch, mới là giỏi trong giỏi". Nguyên tắc này không phải là sự yếu đuối hay chủ nghĩa hòa bình ngây thơ. Nó là sự thừa nhận thực tế rằng chiến tranh, ngay cả khi thắng lợi, luôn để lại hậu quả không thể đoán trước. Chiến thắng bằng vũ lực có cái giá của nó. Đó là biết bao sinh mạng, tài nguyên, cơ hội phản ứng từ đối phương, và những vòng xoáy bạo lực mới.

Nhìn vào cuộc chiến tranh ở Iran hôm nay ta thấy gì? Một tuần sau khi chiến dịch bắt đầu, xung đột đã lan sang Li-băng, các căn cứ Mỹ ở ít nhất 6 quốc gia Vùng Vịnh bị tấn công, eo biển Hormuz bị phong tỏa khiến 20% nguồn cung dầu toàn cầu gián đoạn, tên lửa Iran rơi xuống lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ (thành viên NATO), chiến hạm Iran bị đánh chìm ngoài khơi Sri Lanka, và chi phí ước tính trong 100 giờ đầu tiên của Chiến dịch Epic Fury đã vượt 3,7 tỷ USD theo CSIS. Đây là một cuộc chiến đã vượt ra ngoài khu vực Trung Đông chỉ trong vài ngày, đe dọa kéo theo cả vùng Đông Địa Trung Hải, Vịnh Aden, và có thể xa hơn nữa.

Suzanne Maloney từ Brookings Institution nhận định: "Những gì chúng ta đang thấy sẽ phức tạp hơn nhiều so với những gì Nhà Trắng có thể hy vọng". Còn Kelly Grieco từ Stimson Center thì thẳng thắn hơn: Đạt được sự thay đổi chính trị sâu rộng như vậy "sẽ khó khăn, nếu không muốn nói là không thể, nếu không có bộ binh trên mặt đất". Nhưng bộ binh trên mặt đất đồng nghĩa với thương vong Mỹ nhiều lên. Một cuộc thăm dò dư luận của Reuters cho thấy chỉ khoảng 1/4 người Mỹ ủng hộ cuộc chiến này ngay từ đầu.

Bất xứng vị thế - điểm nghẽn cốt lõi

Đây là điểm mà cả Clausewitz và Tôn Tử đều đồng thuận, dù cách diễn đạt khác nhau. Clausewitz nói về việc cần "đánh giá đúng loại hình chiến tranh mà anh sắp can dự" trước khi bắt đầu. Tôn Tử nhấn mạnh tầm quan trọng của việc "tính toán trong miếu đường trước khi xuất binh". Cả hai đều cảnh báo về cái mà ta có thể gọi là "bất xứng vị thế" (asymmetry of stakes): khi một bên coi xung đột là vấn đề sinh tồn trong khi bên kia coi đó là một "cuộc chiến giới hạn" có thể kết thúc khi nào tùy ý.

Tổng thống Mỹ muốn một cuộc chiến ngắn hạn, sử dụng không quân và hải quân, không đưa bộ binh tham chiến, đạt mục tiêu trong 4-5 tuần như Trump tuyên bố, rồi rút đi. Iran đối diện với cuộc chiến sinh tồn của chế độ và quốc gia, sẵn sàng leo thang tối đa, kéo các quốc gia láng giềng vào vòng xoáy, và có động lực duy trì xung đột vô thời hạn nếu cần thiết. Lịch sử cho thấy bên nào coi cuộc chiến là sinh tồn thường bền bỉ hơn bên coi đó là cuộc phiêu lưu có giới hạn. Việt Nam, Afghanistan, Iraq đã chứng minh điều này. Iran, với 3000 năm lịch sử chống ngoại xâm, không phải ngoại lệ.

Như Al Jazeera phân tích: "Chiến lược của Iran không nhằm chiến thắng trên chiến trường mà nhằm nâng cao chi phí của cuộc chiến, cả về kinh tế lẫn an ninh khu vực. Mục tiêu của họ là làm cho chi phí thay đổi chế độ trở nên quá cao để đối phương không thể chịu đựng nổi". Đây chính là chiến lược "phòng thủ tấn công" mà Tehran đã tuyên bố; và nó giải thích vì sao các cơ sở dầu mỏ Saudi Aramco, trung tâm dữ liệu AWS ở UAE, và cơ sở hạ tầng dân sự trên khắp Vùng Vịnh đều trở thành mục tiêu tấn công của Iran trong những ngày qua.

Cục diện “cùng thua”

Marwan Muasher, cựu Ngoại trưởng và Phó Thủ tướng Jordan, người hiện đang làm việc tại Carnegie Endowment, đưa ra đánh giá u ám: "Lịch sử, cho những ai chịu lắng nghe bài học của nó, dạy rằng thay đổi chế độ mà không có mục tiêu rõ ràng và kế hoạch hiệu quả có thể đạt được điều ngược lại hoàn toàn với hòa bình và thịnh vượng". Ông Muasher chỉ ra rằng điều chúng ta sẽ thấy tiếp theo "không phải là thay đổi chế độ mà là một Iran bị tổn thương nặng nề và chống phương Tây như trước", với "một cộng đồng dân chúng giận dữ, trong đó những người ủng hộ chế độ sẽ càng chống Mỹ hơn, trong khi những người chống chế độ sẽ cảm thấy bị bỏ rơi".

Tiến sỹ Ngô Di Lân đặt câu hỏi: "Chiến thắng là gì trong cuộc chiến hiện nay?" Câu hỏi này vẫn chưa có lời đáp rõ ràng sau một tuần giao tranh. Nếu mục tiêu là ngăn chặn chương trình hạt nhân Iran, các cơ sở chủ chốt đã bị tấn công nhưng theo IAEA, một số cơ sở ngầm vẫn còn nguyên vẹn. Nếu mục tiêu là thay đổi chế độ, Khamenei đã chết nhưng IRGC vẫn tồn tại, và không có chính phủ thay thế sẵn sàng nào được xác định. Nếu mục tiêu là ổn định khu vực, xung đột đã lan ra ít nhất 10 quốc gia trong vài ngày đầu tiên. Và nếu mục tiêu là an ninh năng lượng toàn cầu, việc đóng cửa eo biển Hormuz đang đẩy thị trường vào tình trạng hỗn loạn.

Đây là cục diện mà cả người thắng lẫn người thua đều thua. Mọi quốc gia can dự đều phải đối mặt với kịch bản "cùng thua", nơi thiệt hại chiến lược vượt xa bất kỳ lợi ích chiến thuật ngắn hạn nào.

Bài học tối thượng

Tôn Tử viết: "Cách tốt nhất để giành chiến thắng trong một cuộc chiến là chiến thắng mà không cần phải giao tranh." Và Clausewitz, dù thường bị hiểu lầm là người ca ngợi chiến tranh, thực ra cũng nhấn mạnh: "Một khi chi phí vượt quá giá trị của mục tiêu chính trị, mục tiêu đó phải được từ bỏ và hòa bình phải được theo đuổi." Cả hai nhà tư tưởng, cách nhau hơn 2000 năm, đều đồng ý một điều: ngoại giao không phải là sự yếu đuối, mà là sự tính toán tối ưu.

Vào ngày 25/2/2026, chỉ ba ngày trước khi bom rơi, Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi tuyên bố rằng một thỏa thuận "lịch sử" với Mỹ để tránh xung đột quân sự đang "trong tầm tay" trước các cuộc đàm phán mới tại Geneva. Ông nhấn mạnh rằng Ngoại giao phải được ưu tiên để tránh leo thang thêm. Ba ngày sau, cơ hội đó đã bị bỏ lỡ. Chúng ta không biết liệu những đàm phán đó có thành công hay không nếu tiếp tục được theo đuổi đến cùng. Nhưng chúng ta đã biết chi phí của việc không theo đuổi: Hơn 1.000 người đã chết trong 7 ngày đầu tiên, cả khu vực đang chìm trong hỗn loạn, thị trường toàn cầu đang chao đảo, và không ai biết cuộc chiến này sẽ kết thúc như thế nào hoặc khi nào.

Như Giáo sư Hew Strachan từ Oxford, một trong những chuyên gia hàng đầu về Clausewitz đương đại, từng cảnh báo: Bush và Blair "có chính sách, những tầm nhìn lý tưởng hóa về trật tự hậu chiến, nhưng đó là những chính sách không gắn kết với thực tế khu vực hay năng lực quân sự". Câu hỏi bây giờ là liệu lịch sử có lặp lại hay không, hay Washington và Tel Aviv sẽ học được bài học lịch sử mà nhà nghiên cứu Ngô Di Lân đã nhắc lại: "Bài học quan trọng nhất mà lịch sử quân sự để lại không phải là đánh sao cho thắng - mà là đánh sao để kết thúc đúng thời điểm". Khi chiến lược quân sự dẫn đến ngõ cụt, Ngoại giao không phải là sự yếu kém mà là nước đi tính toán tối ưu nhất. Đó là bài học mà cả Clausewitz lẫn Tôn Tử, cách nhau hơn 2000 năm, đều đồng ý. Câu hỏi còn lại là liệu những người đang điều khiển cuộc chiến Iran có chịu lắng nghe hay không.

Next
Next

#29- Gỡ Bỏ D1-D3: Đột phá chiến lược trong Quan hệ Việt – Mỹ